MỊ - SỨC SỐNG VẪN BẤT DIỆT TỪ TẬN CÙNG ĐAU KHỔ

23/03/2021

(VỢ CHỒNG A PHỦ -  TÔ HOÀI)


Mỗi tác giả, nhà văn đều có một vùng đất để thương để nhớ. Nếu Nguyễn Trung Thành tìm nguồn cảm hứng với vùng đất thiên nhiên đầy nắng gió với nhiều con người đậm chất sử thi, Nguyễn Thi về với miền đất Phương Nam với những con người miền Tây hào sảng thì với Tô Hoài là mảnh đất miền Tây Bắc đã để thương để nhớ cho tôi quá nhiều. Và mảnh đất ấy, con người nơi ấy đã giúp ông viết nên Vợ chồng A Phủ (1952) mà mỗi lần đọc lại – ta không thể không thổn thức với Mị - nhân vật đại diện cho vẻ đẹp của người lao động nghèo miền núi: dù rơi vào hoàn cảnh bị áp bức, đọa đày nhưng họ vẫn khát khao hạnh phúc, khao khát tự do. 

Cũng như bao nhân vật nữ trong các tác phẩm khác, ta bắt gặp một mô típ khá quen thuộc, một cô gái xinh đẹp với vẻ đẹp tâm hồn đáng quý nhưng bạc phận. Nhưng Mị trong Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) vẫn mang một nét gì riêng biệt, có lẽ bởi cái sức sống bất diệt của cô không bao giờ có thể bị dập tắt dù có bị đẩy vào tận cùng của bi thương.

1. Mị - một cô gái có vẻ đẹp tâm hồn đáng quý nhưng bị vùi dập đến đáng thương:

Mị - một cô gái trẻ đẹp, có tài. Tác giả không miêu tả vẻ đẹp, tài nghệ thổi sáo của Mị một cách trực tiếp mà chỉ thông qua một vài chi tiết gián tiếp: có biết bao người mê, trai làng ngày đêm thổi sáo đi theo Mị…Trai làng đến đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị. Nếu Mị không xinh đẹp, không có tài thì làm sao A Sử lại tìm mọi cách để có được Mị? Không chỉ vậy, Mị còn là một cô gái hiếu thảo, có khát vọng tự do, được sống làm chủ cuộc đời mình. Chỉ một lời đáp: “Con nay đã lớn, con biết làm nương ngô. Con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố, bố đừng bán con cho nhà giàu” đã nói lên được tất cả về vẻ đẹp tâm hồn của Mị: vừa thể hiện lòng thương cha vừa thể hiện cá tính mạnh mẽ, không chịu khuất phục, khao khát một cuộc sống tự do giữa núi rừng. Nhưng tất cả những điều tốt đẹp đó không mang lại cho Mị một cuộc sống hạnh phúc. Bởi lẽ Mị sinh ra và lớn lên trong thời kỳ loạn lạc, nơi mà quyền sống của con người không chỉ bị chi phối bởi những thế lực thực dân phong kiến miền núi phía Bắc mà còn bởi những hủ tục, những niềm tin lạc hậu.

Cách mở truyện khá độc đáo với thủ pháp đối lập: Mị không hiện lên bằng chân dung mà hiện lên bởi số phận: “Ai đi xa về, có việc vào nhà thống lý Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi... Nhưng rồi hỏi ra mới rõ cô ấy không phải con gái thống lý: Cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lý”. Mị lẻ loi, âm thầm, cô độc trong khung cảnh tấp nập, đông đúc, giàu sang của nhà thống lí Pá Tra. Có sự đối lập giữa thân phận và tâm trạng: là con dâu nhưng lúc nào cũng cúi mặt, buồn rầu rĩ. Mị đã xuất hiện như thế - gây tò mò, ám ảnh về một kiếp người héo hắt, tàn tạ…

Số phận bi thương của Mị có thể tóm gọn lại trong bốn từ: con dâu gạt nợ

gạt nợ vì Mị vẫn phải gánh trên vai món nợ truyền kiếp của cha mẹ Mị ngày trước. Vì món nợ này mà Mị bị biến thành công cụ lao động cực nhục: “Lúc nào cũng nhớ lại những việc giống nhau, mỗi năm một mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại: Tết xong lên núi hái thuốc phiện; giữa năm thì giặt đay; đến mùa đi nương bẻ bắp. Và dù đi hái củi, bung ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước sợi. Bao giờ cũng thế, suốt năm, suốt đời thế. Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày’’. Không những thế Mị còn bị trói đánh bất cứ lúc nào. Cái thế lực cường quyền đã bóc lột Mị về thể xác, thành một công cụ lao động không hơn không kém… 

con dâu nên Mị bị chi phối bởi thần quyền tức bị hủy diệt về đời sống tinh thần. Mị tin mình đã bị cúng trừ ma nên sẽ mãi mãi không bao giờ thoát khỏi nhà thống lí Pá Tra. Vì vậy cô không nghĩ đến việc bỏ trốn mà chấp nhận số phận chết mòn: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn đợi ngày rũ xương ở đây thôi”…. Cô bị bóng ma thần quyền ấy giết dần giết mòn cảm xúc. Lúc đầu Mị còn khóc, còn muốn chết nhưng rồi sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi.. Căn buồng của Mị như biểu tượng như một ngục thất giam cầm cả thân xác và tâm hồn Mị: căn buồng lỗ vuông bằng bàn tay trông ra không biết là sương hay là nắng ấy khiến ta liên tưởng đến túp lều của Chí Phèo – nó cũng ẩm thấp, ánh sáng hơi lờ mờ. Người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi trời vẫn sáng…

Bị áp bức về thân xác – tâm hồn đã biến một cô Mị xinh tươi, tràn đầy sức sống thành một cô Mị câm lặng, sống mà như chết, mất hết tri giác, chết mòn, lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Bốn chữ con dâu gạt nợ tê tái vô cùng. Một con nợ nếu trả nợ xong sẽ thoát được cảnh sống nô lệ, có thể được tự do nhưng là con dâu thì vĩnh viễn không bao giờ thoát được cái nhà ấy cho đến tàn đời. Bị đày đọa thể xác tất nhiên sẽ rất cực nhục nhưng bị câu lưu về tinh thần mới thật sự đáng sợ … Vì thế số phận Mị có tiếng nói tố cáo mạnh mẽ.

  1. Mị - một cô gái trỗi dậy từ trong đau khổ với sức sống bất diệt.

Như Pascal từng nói “Con người chỉ là một cây sậy mềm yếu…”, nhưng dù mềm yếu, dù có bị bão giông cuộc đời vùi dập nhưng con người vẫn giữ cho mình một sức sống mạnh mẽ. Sức sống ấy có thể bị khuất lấp tạm thời nhưng không bao giờ mất đi. Nó vẫn âm ỉ cháy trong nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn con người, như một đốm lửa nhỏ không tàn, chỉ cần một yếu tố tác động, đốm lửa ấy sẽ bùng lên thành ngọn lửa ham sống mạnh mẽ, nó sẽ giúp con người vượt lên tận cùng đau khổ. Mị cũng như thế. Dù là con dâu gạt nợ, chuỗi ngày sống ở nhà thống lí làm cô chết dần chết mòn cả thể xác và tinh thần nhưng sức sống, lòng khao khát được sống, được tự do vẫn âm thầm trong Mị. Và sức sống ấy đã có những lúc bùng phát thật mạnh mẽ.

  • Lần 1: Mị định tự tử dù không thành vì thương cha. Từ trong tiềm thức Mị vốn đã không chấp nhận một cuộc sống ô nhục, tủi hổ, thà chết chứ không làm kiếp tôi đòi, sống một cuộc sống héo úa.

  • Lần 2: Đêm tình mùa xuân – cuộc vượt ngục tinh thần bất ngờ.

Bức tranh mùa xuân mang đến khát vọng hòa nhập vào thế giới căng tràn nhựa sống tuôn trào ra bên ngoài: Hồng Ngài năm ấy ăn tết giữa lúc gió và rét rất dữ dội. Bức tranh mùa xuân ấy có sắc vàng ửng của cỏ gianh, cái sắc sặc sỡ của những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá , có âm thanh của tiếng lũ trẻ chơi đùa trước sân nhà… Dù mùa đông có lạnh lẽo, rét buốt nhưng con người dù nghèo vẫn tuân theo quy luật tự nhiên, vẫn rộn ràng khi xuân về. Giữa cái tiết trời ấy, cái không khí ấy, tiếng sáo vang lên. Chính tiếng sáo là yếu tố tác động trực tiếp đến Mị, khiến cô hồi sinh. Tiếng sáo lúc đầu nó lấp ló đầu núi rồi văng vẳng đầu làng, tiếp đó nó lửng lơ bay ngoài đường và cuối cùng rập rờn tiếng sáo trong đầu Mị. Tiếng sáo được miêu tả rất kĩ - với nhiều cung bậc khác nhau: từ xa tới gần - từ tiếng sáo hiện tại ngược về quá khứ rồi lại quay về hiện tại. Tiếng sáo lúc rộn ràng, lúc nồng nàn, là tiếng sáo gọi bạn tình. Tác giả sử dụng rất nhiều từ láy gợi hình gợi cảm về sự khêu gợi lả lơi khi miêu tả tiếng sao,  lời ca của nó thì hàm chứa lẽ sống phóng khoáng,  tự do: Mày có con trai con gái/ Mày đi làm nương/ Ta không có con trai con gái/ Ta đi tìm người yêu… Đó là tiếng sáo của tình yêu. Nó đánh thức mọi giác quan của Mị, đánh thức tâm hồn héo úa, đưa Mị trở về, thổi bùng lên ngọn lửa ham sống của Mị.

Tâm trạng Mị thay đổi theo từng cung bậc tiếng sáo. Lúc đầu, Mị đã nghe thiết tha bổi hổi, nhẩm theo lời bài hát. Rồi Mị uống rượu. Mị uống rượu rất lạ: Hành động uống ực từng bát là một hành động nổi loạn. Nếu như Hồ Xuân Hương “Chén rượu hương đưa say lại tỉnh” (Tự tình) để quên đi thực tại phũ phàng, Chí Phèo triền miên trong cơn say để chống lại cả làng Vũ Đại, để có dũng khí mà rạch mặt ăn vạ, ức hiếp thì Mị tìm đến rượu, uống ực từng bát như muốn nuốt bao căm hận, bao cay đắng vào lòng, uống cho cả phận đời bất hạnh đã qua và uống cả khao khát của phần đời chưa tới. Sức chịu đựng có giới hạn, đã đến lúc bùng cháy. Rượu nồng nàn cùng tiếng sáo là chất men say đánh thức phần đời đã mất của Mị, Mị không còn câm lặng nữa mà đã hồi sinh.

Rồi Mị nhớ lại quá khứ. Khi say khi cũng là lúc con người ta nhớ về quá khứ. Không gì có thể ngăn được niềm vui sướng của Mị: Mị thấy phơi phới, trong lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước. Tô Hoài dường như đã thật sự thấu hiểu cái mê cung tâm tư của Mị và bằng tình cảm thương sâu sắc, nhà văn đã khiến chúng ta thực sự xúc động trước những biến đổi về tâm lí của Mị. “Con rùa nuôi trong xó của ấy đã không còn lùi lũi nữa rồi”. Mị đã phá vỡ bức tường lạnh lẽo bao năm qua để đến với tự do với hạnh phúc – Mị đã nhận thức được chính mình - đó chính là ý thức về tuổi trẻ. Mị còn trẻ lắm. Mị hãy còn trẻ. Mị muốn đi chơi. Còn trẻ nghĩa là còn sức sống, còn khao khát sống, còn muốn yêu thương.

Nhưng đớn thay – cảm xúc tìm lại được chính mình lại là một nỗi tủi thân và đau xót cho thực tại. Đó là nỗi bi kịch khi phải sống với người không thương yêu. A Sử - người giam hãm cuộc đời Mị nhưng dẫu không có tình yêu với nhau mà vẫn phải sống với nhau. Còn gì đau khổ khi lấy người mình không yêu và người đó chỉ xem mình là một món đồ chơi và khinh rẻ như súc nô.  Mị lại nhớ đến lá ngón: nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này Mị sẽ ăn cho chết ngay chứ không buồn nhớ lại nữa… Ý nghĩa muốn chết lại trở về. Muốn chết để giải thoát. Ngày xưa vì sống lâu trong cái khổ quen rồi, Mị cũng không buồn chết nữa nhưng giờ đây Mị lại muốn chết. Đó là biểu hiện của sức sống. Vì khi sức sống quay về Mị khó có thể chấp nhận cuộc sống này. Khi niềm khao khát sức sống hồi sinh nó sẽ xung đột gay gắt với thực tại. Cảm xúc ấy có phần nào giống với nhân vật Chí Phèo khi anh bị cái xã hội quay lưng, chặn đường trở về với lương thiện mà bản thân anh thì không thể sống lại cuộc sống tha hoá như trước kia… 

Nhưng Mị không chọn cái chết để giải thoát như Chí Phèo vì bên tai Mị, tiếng sáo vẫn đang réo gọi, cả thiên đường mùa xuân sau ô cửa nhỏ đang thôi thúc khiến Mị không thể ngồi yên – Mị phải hành động. Hành động trong lặng lẽ. Lặng lẽ nhưng mãnh liệt. Hành động đầu tiên của Mị là thắp sáng căn buồng u ám, cô đặc bao muộn phiền. Mị thắp sáng căn buồng cũng là thắp sáng cả tâm hồn Mị, cả cuộc đời Mị - đốt cháy cả nỗi khát khao đang sống lại, để vượt ra khỏi bức tường để về với thế giới đang dập dìu tình yêu. Hành động thứ hai là Mị quấn lại tóc, Mị thay váy áo để đi chơi. Đoạn văn xuất hiện những câu văn ngắn, nhịp gấp thể hiện sự trỗi dậy mãnh liệt của Mị. Những hành động của Mị rất bình thản, thản nhiên - dù biết A Sử đang hiện diện. Mị không sợ, bóng ma thần quyền không thể lấn át được Mị. Và dù bị A Sử trói đứng vào cột Mị cũng không hề hay biết. Vì Mị lúc này không còn sống bằng thể xác nữa mà Mị đang thực sự sống bằng tâm hồn. A Sử có thể trói được thân xác nhưng không trói được tâm hồn Mị bởi tâm hồn Mị đã vượt ra khỏi ô cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay kia để sống cùng đêm tình của tuổi trẻ. Thể xác Mị ở đây bị trói giữa bốn bức tường nhưng tâm hồn Mị đang đi theo những cuộc chơi, những đám chơi. Trong bóng tối Mị vẫn nghe tiếng sáo, có lúc tiếng sáo như nhập cả vào Mị làm Mị bừng lên, vùng bước đi theo tiếng sáo. Mị không biết vì bị trói hay vì sức sống của tâm hồn lớn hơn nỗi đau thể xác. Tay chân đau không cựa quậy được đưa Mị về hiện thực cay đắng: Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa. Có một chi tiết rất đắt khi nhà văn kết lại đêm nổi loạn mùa xuân của Mị. Đó là khi Mị tỉnh dậy và Mị chợt nhớ lại câu chuyện người ta vẫn kể: đời trước, ở nhà thống lý Pá Tra có người trói vợ trong nhà ba ngày rồi đi chơi, khi về nhìn đến, vợ chết rồi. Và Mị đã sợ chết “Mị cựa quậy. Xem mình còn sống hay chết. ” Sợ chết tức là Mị đã muốn sống. Sức sống của Mị không lụi tàn mà dường như càng mãnh liệt hơn như những đợt sóng ngầm lòng đại dương. Sự ràng buộc của A Sử không khuất phục được Mị mà chỉ đang làm lòng ham sống của Mị mạnh mẽ hơn thêm. Sức sống ấy vẫn âm ỉ cháy dù tủi nhục, dù đau đớn.

  • Lần 3: Đêm mùa đông - hành động cứu người và giải thoát cho mình

Cuộc nổi loạn đêm mùa xuân không thành. Phút bừng sáng hiếm hoi trong chuỗi ngày u ám của cuộc đời Mị đã vụt tắt. Mùa xuân ấy khiến Mị càng đau đớn hơn vì nhận rõ “mình không bằng con trâu con ngựa”. Và mùa xuân ấy mang đến cho nhà thống lí một con nợ mới: A Phủ. Mùa đông năm nay A Phủ vì để mất một con bò mà phải chịu trói cho đến chết trên cái cọc.

Những đêm mùa đông trên núi cao lúc nào cũng buồn và cô đơn, nhất là với những con người như Mị. Mị chỉ còn biết thức dậy và sống cùng ngọn lửa. Lần nổi loạn vào đêm tình mùa xuân đã vụt tàn, Mị trở lại là một cô Mị câm lặng trong cô đơn. “Nếu không có lửa sưởi thì Mị cũng đến chết héo”. Có đêm A Sử chợt về thấy Mị ngồi đấy, A Sử ngứa tay đánh Mị ngã xuống cửa bếp. Nhưng đêm sau Mị vẫn ra sưởi như đêm trước.…  Nghĩa là những gì xảy ra xung quanh Mị không cần biết, không cần đoái hoài, không quan tâm, đó là sự tê dại, sống mòn, héo úa cô đơn. Khi ngọn lửa bùng lên, Mị mới biết A Phủ còn sống.… Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy vẫn thế thôi… Mị vẫn sẽ tỉnh dậy, vẫn sẽ thổi lửa và hơ tay... Mị bình thản một cách lạ lùng đến tàn nhẫn. Người đọc không thể tin được một cô Mị trẻ trung, yêu đời, hiếu thảo, phơi phới xưa kia không thể là một cô Mị vô cảm, vô hồn tới nỗi đau của đồng loại như thế. Phải chăng vì sống lâu trong những chuỗi ngày cực nhục ở nhà Thống lí, Mị đã quá quen với cảnh đày đọa người một cách dã man nên cô đã tê liệt cảm xúc…

Nhưng không một lần nữa, sức sống của Mị lại tìm về. Cái con người phơi phới tràn đầy tình yêu của đêm mùa xuân trước lại tìm về. Nếu như đêm mùa xuân, tiếng sáo là yếu tố quan trọng thức tỉnh Mị thì đêm mùa đông này, giọt nước mắt của A Phủ lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen đã đánh thức Mị. Người ta thường nói giọt nước mắt đàn ông thường chảy ngược vào trong nhưng trước mắt Mị là dòng nước mắt A Phủ đang tràn ra bên ngoài - là giọt nước mắt của nỗi đau thân phận, bất lực, uất ức – là dấu hiệu của sự chết đang xuất hiện trên khuôn mặt của người nô lệ. Giọt nước mắt ấy đã làm tan chảy lớp băng giá trong tim Mị - nước mắt của A Phủ làm Mị nhớ đến giọt nước mắt của mình: Mị chợt nhớ đêm năm trước, A Sử trói Mị, Mị cũng phải trói đứng thế kia. Nước mắt chảy xuống miệng, xuống cổ, không biết lau đi được. Và Mị thương người, Mị đồng cảm chia sẻ với nỗi đau của người cùng cảnh ngộ - Trời ơi nó bắt trói đứng người ta đến chết. Nó bắt mình chết cũng thôi. Nó đã bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước ở cái nhà này. Mị thật sự thương cảm cho A Phủ bị trói ở hiện tại, cho chính mình một năm về trước và cho một người đàn bà đời trước bị trói đến chết. Cô đang quay ngược thời gian để xâu chuỗi những hành động tàn bạo của nhà thống lí và có một kết luận: chúng nó độc ác. Mị đã hiểu được nguyên nhân của sự đau khổ, của sự bất công từ ngàn đời – và đó là tội ác của cha con thống lí. Rồi Mị phát hiện ra cái chết của A Phủ thật vô lý: Cơ chừng đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Mị nhận ra A Phủ không chỉ bị chết vì bị trói đứng mà anh còn chết vì bị bỏ đói khát trong giá buốt, lạnh lẽo. Một nỗi bất bình xuất hiện: Người kia việc gì mà phải chết. Bởi cái chết của A Phủ quá vô lý – chết vì để hổ ăn mất một con bò. Cô hiểu chúng nó coi mạng sống con người không bằng giá trị một con vật. Và Mị nghĩ đến mình “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi”, Mị biết Mị là đàn bà, đã bị cúng trừ ma – chỉ có thể bỏ xác lại nơi đây. Vì bị chi phối bởi thần quyền nên Mị cam chịu, chấp nhận nhưng với A Phủ Mị, Mị thấy quá bất công – Suy nghĩ này cho thấy Mị nâng niu, trân trọng giá trị, mạng sống con người, đó là biểu hiện của lòng nhân ái.

Mị lại nghĩ đến cảnh A Phủ trốn, Mị sẽ bị trói thay vào cột nhưng lạ lùng thay lần này cô không thấy sợ nữa. Vì trước mắt Mị là một A Phủ đau đớn, sắp chết vì bất công. Mặt khác đằng nào Mị cũng mòn ở đây thì việc bị trói trên cái cọc ấy cũng chỉ là mang ý nghĩa của một lần chết. Mị không có quyền bỏ mặc người khác, lý trí mách bảo Mị phải cứu A Phủ, lòng thương người đã lớn hơn lòng thương thân, lớn hơn cả nỗi sợ hãi. Nó thôi thúc Mị hành động. Mị đã hành động táo bạo, quyết liệt. Hành động phản kháng đầu tiên là cô cắt dây cởi trói và nói với A Phủ đi ngay. Câu nói đầu tiên của Mị sau bao năm câm lặng là câu nói mang ý nghĩa cứu người. Hành động phản kháng chống lại cường quyền và thần quyền lần này lại là hành động cứu người… Hành động cứu người, vì người ấy là biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái. 

Hành động phản kháng thứ hai là Mị vụt chạy theo A Phủ sau một hồi đứng lặng trong bóng tối. Lúc nãy trước mắt Mị là một A Phủ sắp chết, vì tình thương Mị hi sinh cứu anh. Nhưng khi A Phủ đi rồi, sau lưng Mị là cái cọc chơ vơ, lạnh lùng – là dấu hiệu của Thần Chết sẽ giết chết Mị nay mai – trước mắt Mị là A Phủ dù sắp chết, dù lực tàn vẫn quật cường vùng lên chạy trốn. Phía sau lưng Mị là cái chết, phía trước Mị là một con người đang cố chạy thoát khỏi cái chết. Hai hình ảnh đối lập ấy thật sự tác động đến Mị mạnh mẽ - A Phủ bỏ trốn cũng là một sự thôi thúc của tự do. Sức sống tiềm tàng, tinh thần nổi loạn năm xưa đã bùng dậy – thôi thúc và Mị vụt chạy theo A Phủ. Ta lại nhớ đến cái đêm tối ấy – cái đêm tối khi chị Dậu vụt chạy khỏi nhà quan. Chị Dậu bỏ chạy vào đêm tối và ngoài trời tối đen như cái tiền đồ của chị thì ở đây Mị cũng vụt chạy trong đêm, nhưng không phải chạy trong tuyệt vọng, trong bế tắc như chị Dậu mà cái chạy ấy có mục đích, chạy để sống. Những bước chân của hai con người khốn khổ dìu nhau trong đêm như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn thực dân chúa đất đã đè nặng tâm hồn họ bao nhiêu năm. Ta hãy nghe tiếng Mị nói: A Phủ cho tôi đi với. ở đây thì chết mất. Câu nói thể hiện niềm khát khao sống. Khát khao tự do đến mãnh liệt. Có thể nói Mị cắt dây cởi trói cứu A Phủ cũng là Mị tự cắt dây cởi trói đời mình. Mị cứu A Phủ cũng là cứu mình. Hành động táo bạo và bất ngờ ấy là kết quả tất yếu của sự sống tiềm tàng của một người con gái yếu ớt dám chống lại cả cường quyền và thần quyền. Tác giả đã thể hiện tinh tế những thay đổi trong tâm hồn Mị nên Mị hiện lên rất gần gũi và chân thật.

Khi sức sống tiềm tàng trong tâm hồn nhân vật được hồi sinh – nó sẽ là ngọn lửa không thể dập tắt. Nó tất yếu chuyển hóa thành hành động phản kháng táo bạo ở nhiều nạn nhân của giai cấp thống trị, chính họ đứng lên chống lại cường quyền áp bức, chống lại mọi sự chà đạp, lăng nhục để cứu lấy con người. Đó là điểm khác biệt so với những tác phẩm viết trước 1945 với những kết thúc bi kịch…

Văn học là nhân học. Văn học là khám phá những vẻ đẹp của con người, trao cho họ quyền sống, tìm cho họ con đường giải thoát… Điểm mạnh của Tô Hoài là không sa vào lối ôn nghèo kể khổ mà bằng sở trường quan sát đời sống sắc sảo, với sự am hiểu tập quán, phong tục nhạy bén cùng năng lực khám phá chiều sâu nội tâm con người tinh tế Tô Hoài đã để cho nhân vật của mình hiện diện như những điển hình nhân vật xuất sắc. Suy cho cùng, trên thế gian có hai loại sức mạnh: thanh gươm và cây bút. Thanh gươm thì chiếm thành đoạt đất, còn cây bút thì chinh phục lòng người. Và Tô Hoài đã chinh phục lòng người như thế với nhân vật Mị, với tác phẩm Vợ chồng A Phủ.

Ths. Nguyễn Huyền Nga

(GV trường THPT Năng khiếu TDTT huyện Bình Chánh)

  • (Có 2 bình chọn)

Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút nổi bật của dòng thơ lãng mạn Việt Nam và là người tiêu biểu cho giới thanh niên trí thức đầu thế kỷ XX, sống hết mình, cháy hết mình với những gì mình yêu. Ông đã làm thơ bằng cuộc sống thực, đau đớn, bi thương, bệnh hoạn, khốn cùng...
Văn học Việt Nam sau năm 1986 đã có nhiều chuyển biến theo nhịp điệu đổi mới của cuộc sống. Ý thức cá nhân sau một thời gian dài tạm nhường cho ý thức cộng đồng, tập thể trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã hòa nhịp trở lại với văn học nghệ thuật...
Nam cao, nhà văn “ưu việt”. Người bạn đồng minh muôn thưở của những người nông dân khốn quẩn, những kiếp sống lao khổ, những linh hồn bị lãng quên trong thời đại khói lửa của dân tộc đã “chết non” ở tuổi ba mươi tư dưới nòng súng của giặc...
Lấy bối cảnh không gian, thời gian nghệ thuật nơi phố huyện nghèo, xưa cũ đã sinh thành nuôi dưỡng nên anh hồn văn chương Thạch Lam...
Nhà thơ người pháp Andre Chenien đã khẳng định giá trị nghệ thuật và một trái tim lương thiện của người nghệ sĩ chân chính. Nghệ thuật trong thơ ca chính là sự sáng tạo, nó bắt nguồn từ chất liệu trong cuộc sống cũng như cảm xúc của các nhà thơ...
Đất nước đứng lên của Nguyễn Ngọc, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Mẫn và Tôi của Phan Tứ, Nắng đồng bằng của Chu Lai…