Nhận định của Hoài Thanh – Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam

13/12/2022

“Từ bao giờ đến bây giờ, từ Kinh Thi đến Homère đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn mãi là sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa buồn vui của loài người cho đến ngày tận thế.” (Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam)

Nguyễn Thị Thuỳ Trinh

(lớp 12A2, Trường THPT Vĩnh Viễn, năm học 2022-2023)

“Thời gian hủy hoại các lâu đài nhưng làm giàu những vần thơ”. Đó chính là câu nói nổi tiếng của Jorge Luis Borges. Và đúng như thế lâu đài là thứ to lớn vững chắc nhưng đều bị đánh đổ bởi thời gian, nó cũng chứng minh một điều rằng vạn vật dù nhỏ bé hay to lớn cũng đều bị thời gian vô tình cho biến mất. Con người cũng thế, sống trong dòng chảy thời gian vô tình với quy luật của tạo hóa được sinh ra rồi mất đi. Nhưng trong dòng chảy thời gian vô tình ấy vẫn luôn có người bạn tri kỷ luôn ở mãi bên cạnh chúng ta dù có mất đi, nó chính là thơ ca. Thời gian có thể hủy hoại vạn vật nhưng đối với thơ ca nó là cảm hứng, nó khiến thơ ca ngày càng trở nên tuyệt vời và hoàn hảo. Dù nói rằng thơ ca là người bạn tri kỷ của loài người qua thời gian nhưng câu hỏi: Thơ ca có từ khi nào? Thơ ca sinh ra để làm gì? Thơ ca liệu có quan trọng đối với cuộc sống con người? Tôi có thể nói rằng Hoài Thanh-Hoài Chân sẽ cho ta mọi câu trả lời qua “Thi nhân Việt Nam”.

Trong Thi nhân Việt Nam có viết: “Từ bao giờ đến bây giờ, từ Kinh Thi đến Homere đến ca dao Việt Nam, thơ vẫn mãi là sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa buồn vui của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người đến ngày tận thế”. Như Hoài Thanh xác định “từ bao giờ đến bây giờ” nó chính là mốc thời gian mà thơ ca ra đời. Vậy cái mốc thời gian mà Hoài Thanh nói ấy chính là thơ ca đã tồn tại từ rất lâu, từ lúc khai thiên lập địa. Vì thế nên từ xưa đến nay thơ ca chính là cuộc đời con người, nó chính là hiện thực cuộc sống,...

Ở đây ta có thể thấy Kinh Thi (Trung Quốc) là tập thơ nổi tiếng thế kỷ V trước công nguyên của Khổng Tử san định lại. Các bài thơ trong “Kinh Thi” được sáng tác trong khoảng thời Tây Chu đến giữa thời Xuân Thu gồm 311 bài thơ. “Kinh Thi” chia làm ba bộ phận lớn là Phong, Nhã và Tụng. Không chỉ thế, trong nhận định trên còn có Homère,  ông là tác giả của bộ sử thi nổi tiếng Iliad và Odyssey. Ông được coi là một trong những nhà thơ Hy Lạp cổ đại xuất sắc nhất. Hai tác phẩm Iliad và Odyssey của ông đã có ảnh hưởng đến văn chương hiện đại phương Tây. Theo truyền thuyết thì ông bị mù và là một người hát rong tài năng. Vì khuyết đi đôi mắt quý giá nên thơ ca của ông đều được viết bằng cách truyền miệng. Ta có thể thấy được sự tài năng của tác giả dù cho cuộc đời khắc nghiệt với ông đồng thời cũng như bao thi sĩ khác cuộc đời của họ là minh chứng hoàn hảo cho câu nói của William Carlos Williams: “Các nhà thơ bị nguyền rủa nhưng họ không mù, họ nhìn với đôi mắt của thiên thần.”

“Từ Kinh Thi đến Homere đến ca dao Việt Nam”, điều đặc biệt ở đây chúng ta nhận ra rằng Kinh Thi là một thành tựu thơ ca của nhân loại, Homère là tác giả tài năng xuất sắc của Hy Lạp mà ở đây Hoài Thanh còn đưa ca dao Việt Nam vào ngang hàng với hai sự nổi tiếng trên nhằm khẳng định vị thế của ca dao Việt Nam ngang tầm tác phẩm thế giới. Sự phong phú và đa dạng của thơ ca Việt Nam luôn có thể sánh ngang với những tác phẩm vàng của thế giới.

Đến đây thì tôi nghĩ rằng đã có thể trả lời cho câu hỏi: thơ ca sinh ra để làm gì? Thơ ca liệu có quan trọng đối với cuộc sống của con người? Hoài Thanh đã nói rằng “thơ vẫn mãi là sức đồng cảm mãnh liệt thơ chính là người chia sẻ nỗi lòng tâm sự của con người” đúng như Phan Chu Tiên đã nói: “Trong lòng có điều gì tất hình thành ở lời cho nên thơ nói chí là vậy”. Từng khung bậc cảm xúc của con người đều dệt nên những dòng thơ sâu lắng và chân thật nhất . Có ai nhớ không? Những câu ca dao à ơ ví dầu đưa ta vào giấc ngủ êm dịu, bây giờ lớn lên câu à ơi với dầu ấy vẫn còn đọng như in hình ảnh con cò bay lả bay la hay con cò kiếm ăn trong đêm. Hình ảnh ấy vẫn luôn hiện rõ trong tâm trí tôi, một ký ức không thể nào quên như lời thơ chứa chan đầy tình cảm của mẹ cha bây giờ chợt sống dậy trong trái tim có nghĩa tình yêu đồng loại hơn. Và thơ là thế đấy nó như cái cầu bắt nguồn từ lúc còn thơ bé đến trưởng thành.

Những vần thơ đẹp luôn tồn tại ở mọi không gian và thời gian, là nỗi nhớ người mình thương khi bắt gặp một nửa vầng trăng:

“Hôm nay có một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Gió làm nên tội buổi chia phôi.”

(Hàn Mặc Tử - Một Nửa Trăng)

Ánh trăng sáng đối với mỗi người từ xưa đến nay vẫn luôn là ánh trăng tròn, bây giờ chỉ còn là mảnh trăng khuyết, ánh trăng soi sáng tình yêu đôi lứa lãng mạn, mất một nửa trăng như thiếu một nửa người thương. Thơ là cảm xúc chân thật như rằng ánh trăng thiếu nửa thì nỗi nhớ dâng trào. Nỗi nhớ là cảm xúc không thể thiếu trong khung bậc cảm xúc của thi sĩ nói riêng và con người nói chung.

Hay thơ đẹp chính là cô gái nhà nông làm việc ruộng đồng:

“Em là con gái đồng chiêm

Lấy dao cắt cỏ, lấy liềm bổ cau

Quần mầu nâu, áo mầu nâu

Cái thắt lưng láng đứng đâu cũng giòn.”

(Ca dao)

Vần thơ là hình ảnh cô gái nhà nông làm công việc thường ngày trên đồng ruộng. “ Cắt cỏ”, “ bổ cau”, những công việc lao động quen thuộc của nữ nhân làm nông. Thế đấy, thơ là lao động, vốn dĩ lao động đối với con người Việt Nam là vinh quang. Thơ tiếp thêm cho con người sự nỗ lực càng hăng say hơn trong công việc.

Những câu thơ cứ vậy mà làm cho con người ta đắm chìm. Nếu văn học nghệ thuật tiếng đàn hối thúc tâm hồn trở về với tâm hồn thì thơ “là sự thể hiện, con người và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng). Đứng về phương diện thể hiện cuộc sống, thơ là con thuyền đưa con người chúng ta đến với bờ Chân-Thiện-Mỹ.

Tình yêu vốn dĩ là những thứ tốt đẹp mà lại không bất tử nhưng “thơ làm cho những thứ gì tốt đẹp trên đời đều trở nên bất tử” (Shelly). Và như thế khi kết hợp với giá trị thẩm mỹ của thơ ca ta có thể thấy tình yêu trở nên bất tử và đẹp đẽ đến nhường nào. Có những dòng thơ:

“Khắp nẻo giăng đầy hoa cỏ may

Áo em sơ ý cỏ găm dầy

Lời yêu mỏng manh như màu khói

Ai biết lòng anh có đổi thay?”

(Xuân Quỳnh – Hoa Cỏ May)

Tác giả Xuân Quỳnh vốn say đắm trong tình yêu đẹp đẽ, câu thơ nói lên nỗi lòng, tâm trạng nữ thi sĩ đang yêu, một tình yêu đẹp đẽ. Hay “Thơ là tiếng lòng” (Diệp Tiến). Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu đã yêu rất nhiều nhưng chưa một lần được đáp lại:

“Yêu, là chết trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?

Cho rất nhiều, song nhận lại chẳng bao nhiêu

Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết.”

(Yêu)

Tiếng lòng chất chứa trong từng câu thơ mà bật ra. Là như vậy đấy, thơ, chính nó luôn là chìa khóa giải mã tâm sự người thi sĩ. Cuối cùng ta có thể thấy được một thứ không thể dùng hai từ bất tử để diễn tả như tình yêu nhưng cuối cùng nhờ thơ ca mà nó mãi mãi bất tử.

“Thơ là thư ký trung thành của trái tim” (Duy bralay) Một lần nữa lại động tâm với trái tim khát vọng:

“Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng.

Lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo xèo mặt nước buổi đò đông.”

Thơ sẻ chia và đồng cảm với nỗi xót thương vợ của nhà thơ Trần Tế Xương trong bài “Thương Vợ”. Như Raxum Gamzatôp từng nhận định: “Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay giọt nước mắt đắng cay.” Không chỉ thế thơ còn chỉ ra cái xấu và chính thơ ca giúp con người ta nhìn lại chính bản thân mình. Ở đây, thơ đã thực hiện chức năng tạo hóa con người giúp con người sống có lý tưởng đúng đắn hơn, nhân đạo hơn. Ta có thể nhận thấy rằng thơ ca không là những dòng chữ suông mà nó xuất phát từ tư tưởng, trí tưởng tượng và sự chiêm nghiệm về cuộc sống của thi sĩ. Bởi lẽ thế Chế Lan Viên đã khẳng định về một thi sĩ rằng:

“Nhà thơ như con ong biến trăm hoa thành mật ngọt

Mật ngọt thành đời vạn chiến ong bay.”

Như vậy, minh chứng thấy rằng người đặt bút nên thơ có vai trò cực kỳ quan trọng, nó quyết định hai từ giá trị của thơ đối với cuộc sống con người. Nhà thơ là những người không thể mượn vần điệu, nhịp điệu,... để nói lên khao khát, cuộc sống của riêng mình mà nó là từ cuộc sống chung của tất cả để nói lên cái lớn lao mà cả loài người mơ ước. Bác Hồ chưa từng nhận mình là một thi sĩ mà là thơ ca đã thay ta khẳng định rằng Bác chính là một người nghệ sĩ đích thực. Những tác phẩm thơ ca bác để lại chính là minh chứng rõ ràng nhất: “ Cảnh Rừng Pác Bó” , “ Cảnh Khuya”, “ Cảnh Rừng Việt Bắc”,…

Nói về thơ ca, ca dao về sự quảng đại là sự thiết yếu. Nó rộng rãi và đa dạng nhưng tác giả không được sử dụng cái sự quảng đại, sự rộng rãi đó của thơ ca mà tạo ra con đường cho những đều lệch hướng đưa con người ta đến những cái không tốt. Bởi thế không chỉ cầm bút là trở thành thi sĩ, không phải vài dòng chữ mà trở thành thi ca. Thứ gì trên cuộc sống này cũng có quy tắc riêng của nó nên thơ ca cũng vậy, sai quy tắc thì thác phẩm bị đào thải và người cầm viết ấy sẽ bị chỉ trích, phán xét...

Một lần nữa ta thấy thơ ca mang tầm vóc lớn lao đối với đời sống, văn hóa, phong tục tập quán của con người. Thơ ca là sự đoàn kết dân tộc, là tình yêu thương con người:

“Anh em nào phải người xa

Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân

Yêu nhau như thể tay chân

Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.”

(Ca dao Việt Nam)

Hay thơ là nỗi lòng người làm con:

“Trăng khuya trăng rụng xuống cầu,

Vì con cha mẹ dãi dầu nắng mưa.”

(Ca dao Việt Nam)

Hoặc thơ là tình yêu quê hương:

“Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi.”

(Đỗ Trung Quân)

Nếu không có thơ ca thì làm sao Nguyễn Du có thể đưa sự đồng cảm đến cho người đọc về số phận bạc mệnh của Kiều cũng như là những người phụ nữ với số phận bạc bẽo gắn liền nhiều phong tục lạc hậu thời phong kiến.

Cuối cùng thì như nhận định của Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam, thơ ca có từ rất lâu từ phương đông đến phương tây, miễn cuộc sống và con người vẫn phát triển và có cảm xúc thì thơ ca vẫn sống và lớn lên mãi. Bởi như Puskin nói: “Cuộc sống là cánh đồng màu mở để cho thơ bán rẽ và sinh sôi.” Thơ tạo ra sự mãnh liệt và quảng đại, gắn liền với mạch cảm xúc của con người. Chính vì thế thơ luôn sống trong sự tồn tại vĩnh viễn.

  • (Có 1 bình chọn)

Nguyễn Bính đã từng than thở như thế. Trong câu nói của ông, rõ ràng ta thấy được số phận bạc bẽo, và những đòi hỏi rất cao đè nén lên các nhà văn nhà thơ ở thời điểm lúc bấy giờ...
Không có người đi trước thì làm sao có người theo sau, người dám đương đầu với những thử thách mới mẻ và khó khăn chính là người mở đường cũng như là người tạo ra ngọn lửa soi dẫn cho người theo sau như Lỗ Tấn đã từng nói...
Yêu nước vẫn là dòng chảy xuyên suốt trong máu thịt con người Việt Nam và cả trong nền văn học nước nhà. Là dòng chủ lưu trong văn mạch và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình con người Việt Nam
Hành trình vươn tới vạch đích của những dự định, những ước mơ của con người luôn được tạo từ nhiều yếu tố khác nhau. Trong đó, sự khởi đầu đóng vai trò ý nghĩa quan trọng, bạn chỉ cần biết rằng đã đến lúc để bắt đầu một thứ mới mẻ và tin tưởng vào điều kì diệu của sự khởi đầu...
Mỗi chúng ta đều đến thế gian này một lần, vì vậy hãy sống một lần thật nhiệt huyết, thật bản lĩnh. Tại sao phải cứ chần chừ, phải đợi chờ cơ hội, khi chính chúng ta đang dần lãng phí nó. Cơ hội chỉ đến một lần và chỉ dành cho người thật sự xứng đáng...
Ralph Waldo Emerson từng nhận định rằng: “Yêu cái đẹp là thưởng thức. Tạo ra cái đẹp là nghệ thuật.” Đúng thế cái đẹp là thứ mà con người muốn thưởng thức và chiếm hữu, còn lại việc tạo ra cái đẹp đó lại là thuộc về khung trời nghệ thuật. Nhà họa sĩ, người nghệ sĩ, nhà văn,…