Không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận

28/11/2019

khong-gian-nghe-thuat-trong-tho-huy-can

Một tiết học môn ngữ văn ở bậc THCS. Ảnh: T.L

Không gian nghệ thuật thơ Huy Cận là cả một thế giới bên trong sâu lắng, bàng bạc mông mênh cảm xúc. Lấy cảm hứng từ vũ trụ và thiên nhiên, thơ Huy Cận là cõi bao la trong nỗi buồn mênh mang, là sự cảm nhận thân phận bé nhỏ cô độc của con người trước vũ trụ, là cái hữu hạn đời người trước vô tận của đất trời…

Đi tìm những nét đặc trưng trong thi pháp nghệ thuật của Huy Cận, thế giới nội tâm sâu lắng qua hình ảnh của không gian như: Dòng sông, bầu trời, con đường, biển cả… Song tất cả cũng để toát lên nỗi buồn thiên cổ, nỗi buồn như từ thuở con người cảm nhận được kiếp người, cảm nhận cái tôi bé nhỏ của một linh hồn lạc loài chấp chới. Phải đến sau Cách mạng tháng Tám, cuộc sống mới đã thổi vào hồn thơ Huy Cận một nguồn gió mới làm thay đổi điểm nhìn, cách nhìn của nhà thơ. Vẫn bút pháp tài hoa lãng mạn, vẫn cảm hứng về vũ trụ nhưng hồn thơ thi nhân căng tràn nhựa sống, đầy ắp niềm tin “Trời mỗi ngày lại sáng”. Điểm nhìn đã thay đổi tất yếu tứ thơ cũng thay đổi, hình tượng thiên nhiên, vũ trụ cũng thay đổi và tạo nên thông điệp mới về con người, cuộc sống.

1. Bắt đầu từ những vần thơ trong tập Lửa thiêng, không gian nghệ thuật của Huy Cận thường gắn liền với những dòng sông mênh mông nước: “Nắng đã xế về bên xứ bạn/ Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy” (Vạn lý tình). Sông nước cứ duềnh lên, mênh mông không tìm thấy đâu là bến bờ. Đó chính là dòng cảm xúc. Không gian nghệ thuật của nhà thơ như kéo dài vô tận: “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp/ Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả/ Củi một cành khô lạc mấy dòng” (Tràng giang). Giữa cái mênh mông của sông dài trời rộng, một con thuyền trôi xuôi, một cành củi khô lạc giữa dòng, đó là biểu tượng thân phận con người bơ vơ giữa dòng đời, giữa thiên nhiên. Cái cảm giác cô đơn của con người trong thơ Huy Cận không chỉ đặt trong không gian ba chiều mênh mông bát ngát mà còn có cả chiều thứ tư: Chiều thời gian vô tận (sóng gợn tràng giang), đó là nỗi buồn nhân thế từ ngàn xưa vọng về theo cơn sóng gợn để lay động tâm thức nhà thơ. Không gian vô định, thời gian vô tận chỉ con người nhỏ bé hữu hạn. Giáo sư Phan Cự Đệ đã gọi đó là “Cái buồn trong cuộc đời thực thành những dòng lệ trong văn chương”.

2. Theo quan niệm mỹ học của các nhà thơ mới, cái đẹp luôn gắn với cái buồn, cái buồn trong Tràng giang cứ chất chồng tầng tầng lớp lớp, cứ luôn hiện hữu như từng cơn sóng gợn mặt nước sông dài, và thiên nhiên được cá thể hóa thành “Củi một cành khô” lạc giữa dòng trôi vô định, thành những cánh bèo dật dờ nước cuốn: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng/ Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật/ Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng” (Tràng giang).

Thầy Nguyễn Văn Thành phân tích không gian nghệ thuật trong thơ Huy Cận

Thân phận bọt bèo, trôi về đâu? Không gian với tính ước lệ tượng trưng qua hình ảnh những cánh bèo trôi. Nhà thơ mang cả nỗi buồn thời thế, mang cả tâm trạng cô độc trong thế giới nội tâm sâu thẳm trong không gian hiu quạnh. Không một con đò, không một chiếc cầu, không chợ, không khói chiều, chỉ có thi nhân cô độc dưới bóng chiều lặng ngắm những cánh bèo cứ lặng lẽ nối tiếp nhau phiêu dạt qua bờ xanh bãi vàng hiu hắt để nỗi buồn cứ dợn lên cứ lan tỏa thấm sâu nỗi nhớ quê nhà của thân phận lạc loài.

Không gian nghệ thuật là mô hình không gian của thế giới nghệ thuật được xây dựng bằng hình tượng ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan niệm của tác phẩm, là thông điệp của người nghệ sĩ. 

Không gian bên ngoài đi vào thơ Huy Cận thành thế giới nội tâm, nhà thơ thường chọn những khoảng cách vô tận mang tính đối lập: “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài, trời rộng, bến cô liêu” (Tràng giang); “Lên bề cao hay đi xuống bề sâu?/ Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp” (Đi giữa đường thơm); “Nắng đã xế về bên xứ bạn/ Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy” (Vạn lý tình).

Không có sự giao thoa, chỉ có khoảng cách mưa - nắngdài - rộnglên - xuống,  cao - sâu… Ngay cả trong lời tự tình tuyệt đẹp của Ngậm ngùi, không gian cũng bị chia cắt trên cũng một bãi sông: “Nắng chia nửa bãi chiều rồi/ Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu” (Huy Cận).

Đó chính là nỗi cô đơn giằng xé đến tột cùng. Nếu như Xuân Diệu: “Hôm nay trời nhẹ lên cao/ Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”, thì Huy Cận lại mang đến một trường liên tưởng rất lạ tạo cho người đọc một cảm giác không gian như đè nén lên tâm can để con người có thể cân đo không gian trong thoáng mơ hồ: “Tai nương giọt nước mái nhà/ ghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn” (Buồn đêm mưa). Cái buồn vô cớ mà vẫn cứ buồn, chừng như cái buồn ấy cứ chực chờ một ngoại cảnh nào đó có tác động hay không thì vẫn tuôn tràn. Những giọt mưa là những giọt buồn tích tụ, lắng đọng trong cảm giác lả tả mơ hồ của cõi vô thức.

3. Không gian nghệ thuật luôn có ranh giới với không gian vật chất bên ngoài, nó là thế giới tinh thần là điểm nhìn của nhà thơ. Huy Cận chọn không gian của buổi chiều trong Ngậm ngùi: Tay anh em hãy tựa đầu/ Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi”…

Trong tập thơ Lửa thiêng, Huy Cận không vẽ nên những bức tranh hoành tráng của thiên nhiên, không tô vẽ sắc màu rực rỡ mà chủ yếu là sắc màu tâm tưởng, bàng bạc, đìu hiu heo hút của ngôi làng vùng sơn cước, là tiếng thở dài, tủi nhục của người dân mất nước, là tâm trạng cô đơn đến tột cùng của con người trước vũ trụ…

Và có lẽ phải đến cuối những thập niên 50 của thế kỷ 20, tâm hồn thơ Huy Cận mới dạt dào nhựa sống thời đại: “Mặt trời xuống biển như hòn lửa/ Sóng đã cài then đêm sập cửa/ Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi/ Câu hát căng buồm cùng gió khơi” (Đoàn thuyền đánh cá).

Không là “Nắng chia nửa bãi”, không là “Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư” mà là một bầu trời lồng lộng cao rộng in ráng đỏ xuống mặt biển bao la, là nhịp điệu cuộc sống mạnh mẽ, tấp nập, mặc cho bóng đêm đổ ập vào. Sóng cồn lên nhốt ánh sáng bằng động tác sập cửa nhanh mạnh, dứt khoát. Bóng đêm phủ trùm nhưng con người không bơ vơ, rợn ngợp mà đầy ắp niềm lạc quan yêu đời: “Thuyền ta lái gió với buồm trăng/ Lướt giữa mây cao với biển bằng” (Đoàn thuyền đánh cá).

Đó là cách đặt con người ngang tầm vũ trụ, con thuyền là gạch nối để liên kết trời và biển. Nhà thơ khắc tạc không gian đầy sắc màu: Lấp lánh của cá song giữa ánh trăng vàng chóe rồi vẩy bạc đuôi vàng, rạng đông… Đó là những màu tươi sáng của cuộc sống ấm no, của hạnh phúc. Tầm thước con người trở nên rộng lớn, bài thơ là khúc tráng ca về lao động, về tình yêu thiên nhiên, cuộc sống.

ThS. Nguyễn Văn Thành

(Trường THPT Vĩnh Viễn, Q.Tân Phú, TP.HCM)

  • (Có 2 bình chọn)

“Cái đẹp” là một phạm trù của mĩ học, quan niệm về cái đẹp bấy lâu nay vẫn là những vấn đề đáng được chú ý đến rất nhiều vì nó hầu như rất là đa dạng và phong phú...
Văn chương muôn đời luôn phải phục vụ con người, hướng con người đến với những giá trị cao cả của cuộc sống. Mỗi một tác phẩm mà các nhà văn, nhà thơ viết lên đều bắt nguồn từ con người, từ những cảm hứng nghệ thuật vô tận, những cảm hứng ấy được tác giả lấy ra từ chính hiện thực cuộc sống của con người...
Mọi thứ đang với quy tắc cuộc sống là ồn ào và tấp nập bỗng trong phút chốc đă trở nên im lặng đến đáng sợ. Chính căn bệnh dịch lớn mang tên Covid-19 đã khiến toàn quốc phải trở nên thay đổi trong 2 năm qua. Vậy đó thật chất là căn bệnh gì? Và gây thương tổn như thế nào? Mà lại mang danh thay đổi cuộc sống toàn quốc gia như thế...
Tình thơ miên viễn – một cuộc chơi tôi may mắn được nhà văn Đoàn Thạch Biền kêu đứng tên chung với ông thực hiện tập san Áo Trắng – một tập san xuất bản hàng tháng chuyên đăng các sáng tác viết về thời trong trẻo nhất của đời người...
Nguyễn Tuân - kẻ say chữ như thợ săn say máu. Khát vọng vươn tới cái đẹp đến độ cực đoan, để những con chữ, những trang văn là những “huyết thư” được đúc bằng xương máu cốt tủy...
Tự bao giờ khái niệm “con người” vẫn chưa tìm được sự thống nhất trong định nghĩa. Mỗi bộ môn khoa học có cách hiểu riêng về khái niệm con người. Đối với triết học, con người là một thực thể sinh vật – xã hội. Chỉ với khái niệm cô đọng, ngắn gọn đó đã mở ra biết bao vấn đề cần nghiên cứu...