Những kiếp sống đọng chìm nơi phố huyện trong Hai đứa trẻ - Thạch Lam

07/11/2021

Những kiếp sống đọng chìm nơi phố huyện trong Hai đứa trẻ-Thạch Lam

Trần Quốc Tuấn

Văn học luôn vận động để tránh già cỗi. “Mưa Âu gió Mỹ” thổi vào linh thần văn chương Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX đã tạo nên một bước “trở mình vĩ đại”. “Bức tử” cổ văn phong kiến, bước vào cuộc hòa ca hiện đại với sự sáng tạo tuyệt vời trong thi liệu, thi cảm và thi hứng. Các văn nhân đương thời háo hức “giao cảm với đời”. Gia đình Thạch Lam cũng hồ hởi bắt tay vào cuộc “khai mở văn giới” bằng những dòng lãng mạn, êm ru, bất chấp sự “giãy chết” của nền văn học cổ điển đã ngàn năm tồn tại. Văn Thạch Lam chứa đựng sức sống mãnh liệt của linh hồn, thứ văn chương làm nhói tim người đọc, với những dòng cảm xúc lân mẫn ngọt ngào đượm vị suy tư. Hai đứa trẻ, câu chuyện viết về cuộc sống trong góc tối của những thân phận lẽ mọn giữa sự biến đổi của thời cuộc là tác phẩm in đậm văn cách Thạch Lam - sâu lắng, trữ tình, tha thiết, tuôn chảy một suối nguồn cảm nghiệm ưu tư.

Lấy bối cảnh không gian, thời gian nghệ thuật nơi phố huyện nghèo, xưa cũ đã sinh thành nuôi dưỡng nên anh hồn văn chương Thạch Lam, vì vậy những mảnh đời trong tác phẩm cũng là “hiện thực trần trụi”. Sống trong bóng tối ẩn ức và khiếp nhược, thứ bóng tối chìm mỵ bám riết lấy những thân phận, ăn mòn cuộc đời và phủ bóng đêm u hoài, tạo nên những nét buồn tím đọng trong tâm trí con người.Thạch Lam, bằng sự tinh tế của mỹ cảm, sắc sảo của lý trí đã hút dịch đời tạo tác. Với cách dụng ngôn giản dị, nhẹ nhàng, rũ bỏ những trang nghiêm, bóng bẩy để tạo nên những “vết thương” trong tâm tưởng nhân vật. Gió lạnh đầu mùa là những thanh âm trong trẻo trên sáo ngọc sáo vàng. Trong cái lạnh lẽo của đời người là sự ấm áp nhen nhóm trong cõi lòng như cục than hồng dưới lớp tro nguội. Trong cái lạnh giá phong sương người ta mới thấy được hơi ấm của tình thương. Thạch Lam đã gọi dậy những “tự sự độc âm” trong thâm tâm để phô bày cảm trạng về những biến tấu dữ dội trong tâm hồn khát tự do. Trong cái lạnh thấu xương mới cảm nhận được sự ấm áp tuột cùng của một manh áo ấm, trong cái văn chương tưởng đau đời của Thạch làm luôn chứa đựng tấm lòng, đó là sự chia sớt, sự nâng đỡ tâm hồn để chiến thắng những sống sượng, đau thương của hiện thực khắc nghiệt.Một xóm chợ, một ngõ hẻm, một ga xép, một phố huyện nghèo nàn hoặc một con đường làng vùng nông thôn nào đó. Ở đây, các nhân vật của ông bị tù túng, luẩn quẩn với những đói nghèo, lo âu, dằn vặt thường nhật. Họ luôn bị ám ảnh bởi miếng cơm, manh áo hoặc day dứt với những bi kịch tinh thần. Nhưng trong cái không gian đóng cặn u bần đó là những khát khao đã hóa những phong vị ngọt ngào.

Họa vào khúc luyến nhớ ban chiều là hình ảnh một miền quê ám mộng, với sắc buồn, màu nhạt, vị quê nghèo và tiếng trống lủng lẳng đu mình trong không gian, tiếng ếch nhái run ngân tạo nên sự buồn bã, ão não. Một thực tại bùng nhùng, hoang hoãi, và dòng nước mắt đêm đã nuốt dần ánh sáng dẫn đường mở ra bức tranh phố huyện lập lòe, tù đọng.“Tiếng trống thu không trên cái chợ của huyện nhỏ; từng tiếng một vang xa để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.”

Phố đêm lên đèn, nhưng không phải là thứ đèn ảo diệu, phù hoa mà leo lét và đơn điệu. Ánh sáng của đèn dầu, những vệt sáng, quầng sáng, đốm sáng và thứ ánh sáng trong đôi mắt những con người đang quờ quạng lần mò trong cuộc sinh tồn tăm tối. Hình ảnh phố huyện và ánh sáng của thực tại đó đã dày vò tâm tưởng của nhân vậtLiên, cô chị đương tuổi chanh cốm, từng sống ở “Hà Nội phố” với sự xô bồ, phồn thịnh. Giờ trở về phố huyện trong cơ cực, nhìn cảnh đời eo sèo, đọng chìm mà ào ạt trong tâm linh những mộng tưởng được thoát khỏi cái cảnh mệt nhoài, u sầu này.

Thạch Lam đã dùng phép sáng- tối, sự sáng tạo tuyệt vời trong ngòi bút của mình để minh họa một không gian hiện thực và không gian tâm cảnh. Lối tương phản đối lập độc đáo đó đã vén bức mành đời sống của những phận người bần bạc trên dọc miền đất nước. Những miền đất nửa phố, nửa quê, nhịp sống dai dẵng, lần hồi trong những tái nhợt đơn khó. Gánh phở Bác Siêu là tầm thường với ai đó, nhưng lại là sự xa xỉ với những con người nơi đây, đó là cái mơ ước lớn lao của những “bình dân”? đến một tô phở cũng không sao với tới. Sót lại nơi phố huyện nghèo thứ thức quà của tầng lớp thượng lưu chăng? Ngọn đèn chị Tý, vón cục, lăn cốc lốc, trơ trọi giữa cái màn đen mịt mùng tăm tối. Ánh sáng của cả cái phố huyện đó được thu lại trong một đốm sáng lập lờ trước sự mênh mông vô lối của tối tăm chăng? Bà cụ Thi Điên, một người đàn bà tuổi tác, ngà rượu, “tiếng cười khanh khách ngã dần về phía làng”. Đó chăng là kết quả của một kiếp người đã đắng cay muôn phần, đã đợi hoài những chuyến tàu đi qua thị trấn, tiếng lăn ken két trên đường ray đã kể cho mà nghe về những hành trình của sự sống chóng vánh đơn côi?

Lóe rạng trong tâm tưởng “cô gái Hà Nội cũ” là thứ ước mơ về chuyến tàu đêm. Tàu- biểu tượng của sự đến và đi, tàu chưa từng mang niềm vui vào văn học. Chiều sân ga, chuyến tàu hoàng hôn, những hình ảnh mang lại nỗi cồn cào, buốt nhói, khăn gói biệt ly. Liên đợi tàu cũng là đón đợi người đến, đến mang theo nguồn sáng đủ rạng ngời để xua đi đêm đen sâu thẳm nơi phố huyện, nơi tâm hồn, nơi đáy sâu của bi kịch. Lăn trên đường ray tiếng xao động, Liên cũng muốn một cuộc hành trình không đất hẹn đó chăng? Hạnh ngộ và chia ly là quy luật cuộc sống, ruốt cục chờ đợi sự rực rỡ chốc lát rồi cũng vụt trôi và ao ước của Liên cứ vỡ dần trong mộng tưởng. Chu kì đợi tàu và lóe rạng trong tâm linh một sớm bình minh rồi tiếp đến là hoàng hôn u hoài lại phủ bóng lên gương mặt. Tâm hồn Liên ngày ngày cứ như thế, không hề có sựlay chuyển. Cô ước ao thứ ánh sáng huyền hoặc đó hoài, cho đến quen nhàm và không còn có ý thức đổi mới. Đó là kiếp người vương vãi tù đọng và chấp nhận sống đời vô nghĩa không mảy may một chút yên vui. Con tàu, hành trình cuộc đời, hay là “cõi thực” mà tác giả muốn gửi vào trong “Gió lạnh đầu mùa”. Con tàu đi qua để lại dấu vết/ khoảng trống không thể lấp đầy, đâu chỉ là thứ ánh sáng giác quan nhìn thấy mà cả tâm cảm tri nhận. Tàu mang tâm hồn Liên đi đến thế giới nào đó? Thoát ly khỏi cái phố huyện đóng cặn những buồn thương này! Tàu có âm thanh, ánh sáng, có sự tốc hành, biến lưu đó là cái hối hả vận mình tươi sắc mà tâm hồn khô khát của Liên đang rướn cổ đòi nước để thấp ướt mượt mà. Nhưng! Phải chăng ánh sáng dẫn đường  đến sau mọi sự đã rồi? “Thương thân tàu cùng chung kiếp sân ga/ đêm nối ngày tiễn đưa khách đi xa”…

Cuộc đời muôn sắc ngàn màu, nhưng màu rõ nét nhất vẫn là hai màu sáng tối. Nét vẽ sáng tối bằng ngôn ngữ “thơ” của Thạch Lam đã tạo nên một dung dáng trữ tình cảm động tới những sợi tơ cảm xúc của người đọc, làm nôn nao dâng động những nỗi sầu tư thế sự. Đời vốn dĩ không hào nhoáng thì là tăm tối, không sôi nổi sẽ là đơn tẻ. Ai cũng có khát vọng vươn mình, nhưng nghịch lý đời người đâu phải ai cũng được tưới tắm bởi ngập ngụa ánh sáng. Kiếp sống nơi phố huyện cũng như những cuộc đời hiện tại của những người nghèo trên dọc đất chữ S. Họ không có nhiều cảm xúc sống, họ quen nhàm với sự mưu sinh chật vật. Họ không nghĩ gì nhiều hơn đến một miếng ăn qua ngày. Họ sống một đời không mảy may một khát vọng tìm ý nghĩa. Không một bản nhạc, một bài thơ, một mỹ cảm. Họ chết dần chết mòn trước sự cuồng sát của thời gian.

Thời gian, thời gian như chiếc đồng hồ cát, lẵng lặng mà trôi qua những tang tóc của đời người. Rạng đông kéo đến chốc lát là một ngày lao động không cảm xúc, đêm về thiếp đi mãi miết trong giấc sâu vì những đau nhức. Thạch Lam đã viết nên một hoàng hôn sâu thẳm của những kiếp người.

Ít ra cuộc đời “siêu khổ” của Chí Phèo còn được kết liễu trong một câu “triết ngôn” vĩ đại: “Ai cho tao lương thiện”. Còn Liên thì trở về với bóng tối, lẫn khuất trong bóng tối và xem bóng tối là vị thuốc độc tinh thần và cả đời phải nếm nhận. Ai oán, tuyệt vọng hơn tất cả, ẩn nhẫn trong tâm linh cô gái đang “róng riết” những tiếng kêu đòi giải thoát. Đáy thẳm thời gian một nỗi buồn vô định.

Quốc Tuấn

(GV Trường THPT Vĩnh Viễn)

  • (Có 1 bình chọn)

Hàn Mặc Tử là một trong những cây bút nổi bật của dòng thơ lãng mạn Việt Nam và là người tiêu biểu cho giới thanh niên trí thức đầu thế kỷ XX, sống hết mình, cháy hết mình với những gì mình yêu. Ông đã làm thơ bằng cuộc sống thực, đau đớn, bi thương, bệnh hoạn, khốn cùng...
Văn học Việt Nam sau năm 1986 đã có nhiều chuyển biến theo nhịp điệu đổi mới của cuộc sống. Ý thức cá nhân sau một thời gian dài tạm nhường cho ý thức cộng đồng, tập thể trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã hòa nhịp trở lại với văn học nghệ thuật...
Nam cao, nhà văn “ưu việt”. Người bạn đồng minh muôn thưở của những người nông dân khốn quẩn, những kiếp sống lao khổ, những linh hồn bị lãng quên trong thời đại khói lửa của dân tộc đã “chết non” ở tuổi ba mươi tư dưới nòng súng của giặc...
Nhà thơ người pháp Andre Chenien đã khẳng định giá trị nghệ thuật và một trái tim lương thiện của người nghệ sĩ chân chính. Nghệ thuật trong thơ ca chính là sự sáng tạo, nó bắt nguồn từ chất liệu trong cuộc sống cũng như cảm xúc của các nhà thơ...
Đất nước đứng lên của Nguyễn Ngọc, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, Mẫn và Tôi của Phan Tứ, Nắng đồng bằng của Chu Lai…
Một thời đại được đánh dấu bằng bài thơ Tình già của Phan Khôi đang trên báo Phụ nữ tân dân số 122 ngày 10 tháng 3 năm 1932, một trào lưu văn học mới ra đời, sự giải phóng tình cảm cá nhân, tự do thể hiện những điều thầm kín chừng như bị đè nén hơn 10 thế kỷ của nền văn học trung đại đã tạo nên thành tựu lớn trong lịch sử thi ca Việt Nam...