Hình ảnh con người trong chiến tranh qua bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt

31/12/2019

hinh-anh-con-nguoi-trong-chien-tranh-qua-bai-tho-bep-lua-bang-viet

      Lép Tôn-xtôi đã từng nói rằng: “Một tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Tình yêu con người, yêu cuộc sống chính là hạt mầm khỏe khoắn nuôi dưỡng tâm hồn mỗi con người. Đó cũng là nguồn cảm hứng sáng tác cho biết bao văn nghệ sĩ. Hòa vào mạch cảm xúc ấy, nhà thơ Bằng Việt đã sáng tác nên bài thơ Bếp lửa. Bài thơ hay, giàu sức truyền cảm về tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những người đã hi sinh hạnh phúc riêng để tô màu lên tuổi thơ trong sáng của ta.

       Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ. Thơ ông trong trẻo, mượt mà nhưng sâu lắng. Bài thơ “Bếp lửa” được sáng tác năm 1963, khi tác giả là du học sinh Liên Xô. Trong những ngày tháng xa nhà ấy, hình ảnh người bà thân yêu luôn hiện lên đong đầy trong tâm trí tác giả. Đó là những kỉ niệm về bà và tình cảm sâu sắc của hai bà cháu trong những năm tháng kháng chiến, tuy gian khổ những ấm áp, đong đầy hạnh phúc. Đồng thời tác phẩm cũng thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn gia đình, quê hương, đất nước.

      Trong cuộc đời, ai cũng có riêng cho mình những kỉ niệm của một thời ấu thơ hồn nhiên, trong sáng. Những kỉ niệm ấy là những điều thiêng liêng nhất, nó có sức mạnh phi thường nâng đỡ con người suốt hành trình dài và rộng của cuộc đời. Bằng Việt cũng có riêng một kỉ niệm, đó chính là kỉ niệm về những tháng năm sống bên bà trong kháng chiến trường kì của dân tộc, cùng bà nhóm lên cái bếp lửa thân thương:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

      Hình ảnh bếp lửa “chờn vờn” trong “sương sớm” gợi lên những mảnh kí ức về bà. Bếp lửa được thắp lên, nó hắt ánh sáng lên mọi vật, mang lại sự lan tỏa ấm áp trong tâm hồn đứa cháu thơ ngây. Bếp lửa được thắp lên cũng là bếp lửa của cuộc đời bà, một cuộc đời đã trải qua đã trải qua “biết mấy nắng mưa”. Dù đã cách xa nửa vòng trái đất nhưng dường như Bằng Việt vẫn cảm nhận được sự vỗ về, yêu thương, chăm chút từ đôi tay kiên nhẫn và khéo léo của bà. Trong cái khoảnh khắc ấy, trong lòng nhà thơ lại trào dâng một tình yêu thương bà vô hạn. Các từ láy “chờn vờn”, “ấp iu” vừa gợi hình và gợi cả suy tư. Các câu thơ cứ nhẹ nhàng, chân thật như sương mai buổi sớm lan tỏa vào tâm hồn người đọc một tình cảm yêu thương sâu lắng. Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm trên dòng song tuổi thơ êm đềm mà suốt cuộc đời này người cháu không bao giờ quên được. Từ đó, sức ấm và ánh sáng của tình bà cháu cũng như của bếp lửa lan tỏa toàn bài thơ.

      Nhớ về những năm tháng thơ ấu sống cùng bà, Bằng Việt nhớ về những điều bình dị nhất. Lời thơ giản dị như lời kể, như những câu văn xuôi thủ thỉ, tâm tình. Bằng Việt như đang kể lại cho người đọc nghe về câu chuyện cổ tích tuổi thơ mình, một câu chuyện cổ tích đời thường từ những điều đơn giản, từ một bếp lửa đây ắp yêu thương. Và trong câu chuyện cổ tích của những bạn cùng lứa khác có bà tiên hiền hòa, phép màu huyền nhiệm thì trong câu chuyện của Bằng Việt có bà và bếp lửa nồng đượm mặc bao nắng mưa cuộc đời. Trong những năm đói khổ, người bà đã gắn bó bên người cháu, chính bà là người xua tan bớt đi cái không khí ghê rợn của nạn đói 1945 trong tâm trí đứa cháu. Cháu lúc nào cũng được bà chở che, bà dẫu có đói cũng để cháu không thiếu bữa ăn nào, bà đi mót từng củ khoai, đào từng củ sắn để cháu ăn cho khỏi đói:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói, hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

       Chính mùi khói đã xua đi cái mùi tử khí trên khắp các ngõ ngách. Cũng chính cái mùi khói ấy đã quện lại và bám lấy tâm hồn đứa trẻ đã nhen lên sự sống vượt qua cái “đói mòn đói mỏi” khắc nghiệt. Nhịp điệu thơ trở nên trầm lắng suy tư về hiện thực đất nước trong chiến tranh. Dù cho tháng năm có trôi qua, những kí ức ấy để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng đứa cháu để rồi lắng đọng lại mỗi khi nhớ về chợt thấy sống mũi còn cay. Là khói làm cay mắt cháu hay chính là tấm lòng của người bà làm đứa cháu không cầm được nước mắt?

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm bếp

Tu hú kêu trên những cách đồng xa

Khi tu hú kêu bà còn nhớ không bà

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

      Cháu cùng bà nhóm lửa, nhóm lên ngọn lửa của sự sống và tình yêu bà cháy bỏng của một cậu bé với tâm hồn hồn nhiên, trong sáng. Chính hình ảnh bếp lửa quê hương, bếp lửa của tình bà cháu đó đã gợi nên một liên tưởng, một hồi ức khác trong tâm trí thi sĩ thuở nhỏ. Đó là tiếng chim tu hú kêu - Tiếng tu hú như giục giã lúa mau chín, người nông dân mau thoát khỏi cái đói, và dường như đó cũng là một chiếc đồng hồ của đứa cháu để nhắc bà rằng: “Bà ơi, đến giờ bà kể chuyện cho cháu nghe rồi đấy!”. Từ “tu hú” được điệp lại ba lần làm cho âm điệu câu thơ thêm bồi hồi tha thiết, làm cho người đọc cảm thấy như tiếng tu hú đang từ xa vọng về trong tiềm thức của tác giả. Tiếng tu hú lúc mơ hồ, lúc văng vẳng từ những cánh đồng xa gợi lên nỗi nhớ tha thiết về quê hương. Tiếng chim tu hú khắc khoải làm cho dòng kỉ niệm của đứa cháu trải dài hơn, rộng hơn trong cái không gian xa thẳm của nỗi thương nhớ mênh mông.

      Nếu như trong những năm đói kém của nạn đói 1945, bà là người gắn bó với tác giả nhất, yêu thương tác giả nhất và trong tám năm ròng của cuộc kháng chiến, tình cảm bà cháu ấy lại càng sâu đậm:

Mẹ cùng cha bận công tác không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe (...)

      Trong tám năm, đất nước trải qua kháng chiến trường kì, hai bà cháu phải rời làng đi tản cư, bố mẹ phải đi công tác, cháu phải ở cùng bà trong quãng thời gian ấy, nhưng dường như đối với cháu như thế lại là một niềm hạnh phúc vô bờ. Ngày nào cháu cũng cùng bà nhóm bếp. Và trong cái khói bếp chập chờn, mờ mờ ảo ảo ấy, nửa hư nửa thực lại đong đầy kỷ niệm yêu thương.

      Nếu như đối với mỗi chúng ta, cha sẽ là cánh chim để nâng ước mơ của con vào một khung trời mới, mẹ sẽ là cành hoa tươi thắm nhất để con cài lên ngực áo thì đối với Bằng Việt, người bà vừa là cha, vừa là mẹ, vừa là cánh chim, là một cành hoa của riêng nhà thơ. Cho nên, tình bà cháu là vô cùng thiêng liêng và quý giá đối với ông. Trong những tháng năm sống bên cạnh bà, bà không chỉ chăm lo cho cháu từng miếng ăn, giấc ngủ mà còn là người thầy đầu tiên của cháu. Bà dạy cho cháu những chữ cái, những phép tính đầu tiên. Không chỉ thế, bà còn dạy cháu những bài học quý giá về cách sống, đạo làm người. Những bài học đó sẽ là hành trang mang theo suốt quãng đời còn lại của cháu. Người bà và tình cảm mà bà dành cho cháu đã thật sự là một chỗ dựa vững chắc về cả vật chất lẫn tinh thần cho đứa cháu bé bỏng. Cho nên mỗi khi nghĩ về bà, nhà thơ càng thương bà hơn vì cháu đã đi rồi, bà sẽ ở với ai, ai sẽ cùng bà nhóm lửa, ai sẽ cùag bà chia sẻ những câu chuyện những ngày ở Huế...

      Thi sĩ bỗng tự hỏi lòng mình: “Tu hú ơi, chẳng đến ở cùng bà?” Một lời than thở thể hiện nỗi nhớ mong bà sâu sắc của đứa cháu nơi xứ người. Chỉ trong một khổ thơ mà hai từ bà, cháu đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần gợi lên hình ảnh hai bà cháu sóng đôi, gắn bó, quấn quýt không rời. Chiến tranh - một danh từ bình thường nhưng sức công phá của nó thì khốc liệt vô cùng, nó gây ra đau khổ cho bao người, bao nhà. Và hai bà cháu Bằng Việt cũng trở thành một nạn nhân của chiến tranh: gia đình bị chia cắt, nhà bị giặc đốt cháy rụi, phải sống tản cư...

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lũi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:

Bố ở chiến khu bố còn việc bố

Mày viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!

      Cuộc sống càng khó khăn, cảnh ngộ càng ngặt nghèo, nghị lực của bà càng bền vững, tấm lòng của bà càng mênh mông. Qua đó, ta thấy hiện lên một người bà cần cù, nhẫn nại, giàu đức hi sinh, tràn đầy lòng yêu nước, là mẫu người phụ nữ Việt Nam trong bom đạn chiến tranh. Dù cho ngôi nhà, túp lều tranh của hai bà cháu đã bị đốt nhẵn, nơi nương thân của hai bà cháu nay đã không còn, bà dù có đau khổ thế nào cũng không dám nói ra vì sợ làm đứa cháu bé bỏng của mình lo buồn. Bà cứng rắn, dắt cháu vượt qua mọi khó khăn. Bà không muốn đứa con đang bận việc nước phải lo lắng chuyện nhà. Điều đó ta có thế thấy rõ qua lời dặn của bà: “Mày có viết thư chở kể này kể nọ / Cứ báo nhà vẫn được bình yên!”. Lời dặn của bà nôm na giản dị nhưng chất chứa biết bao tình cảm. Gian khổ, thiếu thốn, bao nỗi nhớ thương con bà đều phải nén vào trong lòng để yên lòng người nơi tiền tuyến.

      Kết thúc khổ thơ, Bằng Việt đã nâng hình ảnh bếp lửa trở thành hình ảnh ngọn lửa, một ngọn lửa sàng bùng cháy trong sự âm ỉ, ngọn lửa của niềm tin:

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

      Hình ảnh ngọn lửa tỏa sáng trong câu thơ, nó truyền cảm mạnh mẽ. Ngọn lửa của tình yêu có sức mạnh phi thường, ngọn lửa ấm nồng như tình bà cháu, ngọn lửa đỏ hồng soi sáng con đường cho cháu đi. Bà luôn nhắc cháu rằng: nơi nào có ngọn lửa, nơi đó có bà, bà sẽ luôn ở cạnh cháu. Cho cháu niềm tin và động lực để hoàn thành con đường mình lựa chọn.

Những dòng thơ cuối bài cũng chính là những suy ngẫm về bà và bếp lửa mà nhà thơ muốn gởi tới bạn đọc, qua đó cùng là những bài học sâu sắc từ công việc nhóm lửa tưởng chừng đơn giản:

Nhóm bếp lửa ấp iu, nồng đượm

      Một lần nữa, hình ảnh bếp lửa ấp iu, nồng đượm đã được nhắc lại ở cuối bài thơ như một lần nữa khẳng định lại cái tình cảm sâu sắc của hai bà cháu. Bếp lửa của bà “Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi”. Điệp từ “nhóm” ngân vang tạo nhạc điệu cho câu thơ, khắc họa sức sống mãnh liệt, tình làng nghĩa xóm sâu nặng chia sớt ngọt bùi. Nhóm lên bếp lửa ấy, người bà đã truyền cho đứa cháu một tình yêu thương những người ruột thịt và nhắc nhở cháu rằng không bao giờ được quên đi những năm tháng nghĩa tình, những năm tháng khó khăn mà hai bà cháu đã sống với nhau, những năm tháng đói khổ mà hai bà cháu cùng chia nhau từng củ sắn, củ mì. “Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui”, nồi xôi gạo mới sẻ chung vui của bà hay là lời răn dạy cháu luôn phải mở lòng ra với mọi người xung quanh, phải gắn bó với xóm làng, đừng bao giờ có một lối sống ích kỉ. Bếp lửa ấy còn:

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.

Ôi! Kỳ lạ và thiêng liêng bếp lửa.

      Bà không chỉ là người chăm lo cho cháu đầy đủ về vật chất mà còn là người làm cho tuổi thơ của cháu thêm đẹp thêm huyền ảo như trong truyện. Người bà có trái tim nhân hậu, đã nhóm dậy, khơi dậy, giáo dục và thức tỉnh tâm hồn đứa cháu để mai này cháu khôn lớn thành người. Người bà kì diệu như vậy ấy, rất giản dị nhưng có một sức mạnh kì diệu từ trái tim, một trái tim ấp áp thấm đẫm tình yêu thương. Câu thơ thốt lên như một phát hiện kỳ diệu của bếp lửa tình thân. Ta có thể bắt gặp người bà như vậy trong Tiếng gà trưa của Xuân Quỳnh:

Tiếng gà trưa

Mang bao nhiêu hạnh phúc

Đêm cháu về nằm mơ

Giấc ngủ hồng sắc trứng.

      Suốt dọc bài thơ, mười lần xuất hiện hình ảnh bếp lửa là mười lần tác giả nhắc tới bà. Âm điệu những dòng thơ nhanh mạnh như tình cảm đang trào lớp lớp sóng vỗ vào bãi biển xanh thẳm. Người bà đã, đang và sẽ mãi mãi là người quan trọng nhất đối với cháu dù ờ bất kì phương trời nào. Bà đã trở thành một hình tượng bất diệt không thể thiếu trong trái tim cháu. Giờ đây, khi đang ở xa bà nửa vòng trái đất, Bằng Việt vẫn luôn hướng lòng mình về bà:

Giờ cháu đã đi xa.

Có ngọn khói trăm tàu

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở

Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

      Xa vòng tay chăm chút của bà để đến với chân trời mới, đến với ước mơ tìm kiếm nguồn tri thức vô biên để xây dựng đất nước. Chính tình cảm giữa hai bà cháu đã sưởi ấm lòng tác giả trong cái mùa đông lạnh giá, đơn côi của nước Nga. Đứa cháu nhỏ của bà ngày xưa giờ đã trưởng thành nhưng trong lòng vẫn luôn đinh ninh nhớ về góc bếp, nơi nắng mưa hai bà cháu có nhau. Đứa cháu sẽ không bao giờ quên và chẳng thể nào quên được vì đó chính là nguồn cội, là nơi mà tuổi thơ của đứa cháu đã được nuôi dưỡng để lớn lên từ đó.

      Đọc xong bài thơ, nhắm mắt lại tưởng tượng, bạn sẽ hình dung thấy ngay hình ảnh bếp lửa hồng và dáng người bà thân yêu lặng lẽ ngồi bên. HÌnh ảnh ấy như một bức tương đồng điêu khắc sinh động đã lột tả được hình ảnh người mẹ, người chị Việt Nam anh hùng trong những năm kháng chiến trường kì của dân tộc. Bài thơ Bếp lửa sẽ sống mãi trong lòng bạn đọc nhờ sức truyền cảm sâu sắc của nó. Bài thơ đã khơi dậy trong lòng chúng ta một tình cảm cao đẹp đối với gia đình, với những người đã tô màu lên tuổi thơ trong sáng của ta.

Nguyễn Thủy Tiên

(GV trường Quốc tế Á Châu)

  • (Có 1 bình chọn)