VẺ ĐẸP CỦA DÒNG NƯỚC MẮT TRONG VĂN CHƯƠNG

22/02/2021

Nguyễn Thị Mai Hương (12A1 THPT Vĩnh Viễn)

Nước mắt được coi là thứ nước quý giá nhất của con người, nó không chỉ thể hiện nỗi buồn, tuyệt vọng mà còn thể hiện cho niềm vui, hạnh phúc. Người ta chỉ rơi nước mắt khi cảm xúc của họ đạt đến đỉnh điểm, bật ra thành hình. Đối với các nhà văn, nước mắt gắn liền với những nỗi đau đớn, khốn cùng của con người. Đặng Tiến – một nhà phê bình văn học từng nói ‘’Nghệ thuật tạo vẻ đẹp cho những dòng nước mắt và biến nỗi thống khổ của nhân loại thành tiếng hát vô biên’’.

      ‘’Dòng nước mắt’’, ‘’nỗi thống khổ’’ chính là những nỗi đau, sự bất hạnh của con người, là thân phận con người bị chà đạp trong cuộc sống bi kịch, bị bần cùng hóa, cơ cực, đầy rẫy những bất công. Còn ‘’Tiếng hát vô biên’’ thể hiện tình cảm trân trọng, nâng niu và ngợi ca niềm tin đối với con người. Ý kiến của Đặng Tiến phần nào đã thể hiện được những giá trị nghệ thuật nói chung, văn chương nói riêng: quan tâm, tập trung đến vấn đề phản ánh hiện thực, đồng thời thể hiện nỗi đau đớn, xót xa cho số phận của người dân nghèo không chỉ là qua sự thấu hiểu, sẻ chia, lo âu trăn trở mà còn là qua cách truyền cảm hứng từ những ngôn từ mang hàm ý sâu xa và khả năng sáng tạo nghệ thuật. Văn học là sự khám phá, khai thác từ những vẻ đẹp đơn sơ, mộc mạc của cuộc sống, nâng niu vẻ đẹp ấy và bộc lộ niềm tin, niềm lạc quan vào vẻ đẹp của con người, truyền sức mạnh niềm tin về cuộc sống vào chính con người. Đó là vai trò tất yếu của văn học, là sứ mệnh đặc biệt chỉ văn học mới có được.

        Trong văn học Việt Năm, có nhiều những tác phẩm viết về người nông dân, về những con người cùng cực, bị áp bức và có những giọt nước mắt rơi xuống vì bi kịch chồng chất bi kịch. Phải nói rằng, chính hình ảnh giọt nước mắt của những nhân vật trong các tác phẩm, đã khiến cho tác phẩm càng thêm phần cao trào, đẩy cảm xúc của người đọc lên tới đỉnh điểm, trào dâng những cảm xúc mãnh liệt,nghẹn ngào. Tiêu biểu là chi tiết giọt nước mắt của anh Chí trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao. Những dòng nước mắt của anh Chí không chỉ là giọt nước mắt của một kẻ thất tình, bị người yêu từ chối, hay nước mắt của kẻ cô đơn, lạc loài, vừa tìm được chút hơi ấm từ tình thương lại bị tước đi trong phút chốc, mà giọt nước mắt ấy còn là của một con người bị dồn tới bước đường cùng sự đau khổ, tối tăm, muốn trở lại làm người nhưng lại bị khước từ. Giọt nước mắt thể hiện cho một con người có cảm xúc, có nhận thức. Phải chăng, giọt nước mắt ấy của Chí Phèo đã cho ta thấy, Chí đã thức tỉnh nhân tính của chính mình?. Giọt nước mắt đầu tiên của Chí Phèo mới chỉ là rưng rưng, ươn ướt ‘’Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt’’. Lần đầu tiên trong cuộc đời của Chí, sau tiếng khóc chào đời, Chí đã khóc, hắn khóc vì một cháo hành, một câu hỏi thăm lo lắng từ người phụ nữ lạ mặt, hắn khóc vì lần đầu tiên hắn cảm nhận được sự ấm áp, được săn sóc bởi bàn tay của một người phụ nữ - Thị Nở. Giọt nước mắt của Chí lần đầu là giọt nước mắt của hạnh phúc, của sự thức tỉnh lương tri con người. Thị Nở vốn chỉ là người phụ nữ bình thường lại còn xấu xí, chẳng ai ngó đến, vậy mà chính Thị lại mang đến sức sống, hạnh phúc cho Chí Phèo, cứu vớt Chí trở lại ánh sáng từ địa ngục tối tăm. Nhưng rồi cũng chính tay Thị Nở đã cướp đi tia hi vọng mỏng manh cuối cùng của hắn. Chỉ bằng những câu nói của bà cô, Thị Nở liền đã xua tay, nhẫn tâm đẩy Chí trở lại vũng bùn lầy lội, đẩy Chí trở lại nơi vực thẳm tăm tối, không lối thoát, không tia sáng. Lúc này, Chí đã khóc lần thứ hai. Nhưng lần này, tiếng khóc không còn là im lặng, không còn là ‘’ươn ướt’’ đuôi con mắt. Hắn khóc, hắn khóc trong đau đớn, tuyệt vọng, khóc cho con người hắn đã chẳng còn con đường nào để giải thoát bản thân. Những dòng nước mắt cứ tuôn trào, chẳng thể ngăn lại, bởi nước mắt của hắn lúc này là cảm xúc đã đạt tới đỉnh điểm của đau thương ‘’Hắn ôm mặt khóc rưng rức’’. Nếu như, tiếng khóc ở lần đầu gặp chỉ đơn thuần là ‘’mắt hình như ươn ướt’’, thì tiếng khóc thứ hai lại khiến con người ta ám ảnh. Thị Nở là người ném chiếc phao cứu hộ cho Chí khi Chí sắp đến giới hạn chịu đựng, rồi cũng chính Thị đã rút lại chiếc phao ấy, mặc Chí tuyệt vọng đến bước đường cùng. Đến cuối tác phẩm, Nam Cao đã kết thúc truyện với hình ảnh Chí tìm đến nhà Bá Kiến, biết đã không thể trở về con người lương thiện, Chí liền đâm chết kẻ đã biến mình thành con quỷ, rồi hắn tự kết liễu cuộc đời mình. Hình ảnh cuối cùng ấy thật khiến cho người ta phải suy ngẫm. Qua tác phẩm ‘’Chí Phèo’’, nhà văn Nam Cao bằng lối viết hiện thực, ngôn ngữ giản dị, gần gũi, ông đã thành công khắc họa lên được hình ảnh của Chí Phèo, từ đó bộc lộ cuộc sống của người nông dân trong xã hội xưa, bị áp bức, bóc lột, đến cuối cuộc đời cũng chỉ là bế tắc và cái chết. Tác phẩm hoàn toàn đã cho ta thấy giá trị nhân đạo và giá trị hiện thực. Một mặt ông sẻ chia, thấu hiểu, bộc lộ cuộc sống cơ cực, bần cùng, một mặt ông tố cáo sự giả tạo, bộ mặt ác nhân của bọn cường hào ác bá đã đẩy dân ta vào nơi lầm than.

        Không chỉ một mình ở Chí ta mới thấy được những dòng nước mắt, nỗi thống khổ của người dân lương thiện mà ngay trong truyện ngắn ‘’Lão Hạc’’, Nam Cao cũng đã cho ta thấy tấm lòng nhân đạo, sự sẻ chia, thấu hiểu của ông đối với nhân vật, với hiện thực cuộc sống đầy bất công của người nông dân nghèo. Đối với lão Hạc thì người bạn duy nhất của ông là con chó để bầu bạn mà người con trai trước khi bỏ đi để lại cho ông – cậu Vàng, nhưng vì hoàn cảnh bế tắc, ông đành bán nó đi. Ông khóc vì chỗ dựa duy nhất của ông, người bạn an ủi tuổi già cô độc cũng bán đi mất. Đó là tiếng khóc than thân tủi phận. Sau này, lão lại khóc, nhưng lần này tiếng khóc lại có phần oán trách bản thân mình ‘’Tôi già bằng này tuổi đầu còn đánh lừa một con chó’’ – tiếng khóc ấy chính là thay cho sự ân hận, hối lỗi của mình trước hành động không nên làm. Tiếng khóc của lão Hạc cũng phần nào cho ta thấy được nhân phẩm của lão, một người yêu thương động vật, xem con chó như một người bạn, người thân thiết của mình, nhưng cũng chỉ vì cuộc sống mà phải bán nó đi. Chính chi tiết lão Hạc khóc vì mất cậu Vàng, khóc oán trách bản thân sao lại lừa nó càng khiến người đọc cảm thấy nghẹn ngào. Phải chăng, nếu như xã hội thời đó không khắc nghiệt với tất cả, đặc biệt là lão Hạc thì chắc lão đã không phải làm tới mức bán đi người bầu bạn duy nhất của mình. Rồi ông giáo – người hàng xóm của lão Hạc, nghe câu chuyện của lão cũng muốn ‘’òa lên khóc’’ theo. Trước tiên, ông muốn ôm và khóc cùng lão đó là sự cảm thông, thấu hiểu với hoàn cảnh người bạn già của mình. Tiếp đó, ông cũng khóc cho chính bản thân mình cũng rơi vào tình thế như lão Hạc, ông cũng từng phải ép lòng bán đi những cuốn sách quý của mình đấy thôi. Những cuốn sách ấy cũng từng một thời gắn bó với ‘’đầy những say mê đẹp và cao vọng’’. Qua hai nhân vật lão Hạc và ông giáo, ta đều thấy hiện lên là những dòng nước mắt, đó là dòng nước mắt khóc thương cho số phận, chắt ra từ những tủi nhục, khổ đau đến tột cùng. Đồng thời, cũng mang tình thương mênh mông và là biểu hiện đẹp đẽ cho phẩm cách làm người. Trong truyện, Nam Cao cũng ngậm ngùi nêu lên một triết lý lẽ đời ‘’Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữa’’. 

      Nước mắt đối với Nam Cao chỉ thông qua hai tác phẩm tiêu biểu, vừa là biểu tượng của nhân phẩm con người, vừa là biểu tượng của những đắng cay mà cũng là của tình thương, của niềm trắc ẩn, mối từ tâm.

Trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài, chúng ta cũng bắt gặp hình ảnh giọt nước của A Phủ. Đây là một chi tiết đầy ấn tượng của nhân vật, được Tô Hoài miêu tả vô cùng chân thực, khiến người đọc cũng cảm thấy thương cho hoàn cảnh của A Phủ mà nhói tâm can. Giọt nước mắt của A Phủ không chỉ thể hiện cho cảm xúc tuyệt vọng trước cái chết đang cận kề, mà còn mang sức mạnh thức tỉnh, bởi chính giọt nước mắt ấy đã đánh thức sức sống tiềm tàng vốn đã bị vùi lấp bấy lâu nay của Mị. A Phủ khóc cho chính số phận của mình, nếu như không nhờ có Mị cắt dây trói thì có lẽ, ngay cái đêm lạnh lẽo đến thấu xương ấy, A Phủ cũng không thể trụ nổi nữa mà chết đi. Nguyên nhân dẫn tới việc A Phủ bị bắt trói đứng suốt đêm đông lạnh giá là bởi, chỉ một phút lơ đãng anh đã để hổ bắt mất một con bò của nhà thống lí. Tên thống lí Pá Tra vốn không phải tên có tính người, hắn biết chuyện liền lấy dây mây trói A Phủ vào cột nhà, mặc cho A Phủ xin đi bắt hổ về, thống lí Pá Tra bỏ ngoài tai lời A Phủ, nói A Phủ là quân ăn cướp, còn nói với A Phủ rằng “Mày ra ngoài kia, lấy vào đây một cái cọc, một cuộn dây mây. Tao trói mày đứng chỗ kia. Bao giờ chúng nó bắn được con hổ về thì mày khỏi phải chết. Nếu không được con hổ thì tao cho mày đứng chết ở đấy’’. Qua câu nói của tên thống lí, ta phần nào thấy được bộ mặt ác nhân, không có tính người của hắn, hắn coi mạng người không bằng một con trâu, con bò. A Phủ cứ như vậy chịu phạt, bị trói đứng, bị bỏ đói, chết rét suốt mấy ngày đêm. Và trong đêm đông ấy A Phủ đã khóc, Mị chỉ vô tình nhìn thấy giọt nước mắt của A Phủ nhưng lại nghĩ ngay đến số phận của mình. Mị và A Phủ đều giống nhau, đều có gia cảnh nghèo khó, phải đi ở để gạt nợ. Giọt nước mắt ấy đã đem đến rất nhiều sự thay đổi trong cái nhìn nhận thức và tâm hồn của Mị, mang đến sự thay đổi lớn cho người đàn bà bất hạnh này. Nhìn giọt nước mắt của A Phủ, Mị nhớ lại ngày tháng mình cũng từng bị trói đứng vào cột, bị bỏ đói suốt mấy đêm, Mị đồng cảm sâu sắc với số phận của A Phủ, hiểu được cuộc sống đọa đầy của hiện tại cũng như tận cùng sự ác độc của cha con nhà thống lí Pá Tra. Sức sống tiềm tàng bấy lâu của Mị cũng đã trỗi dậy cùng khao khát sống, khao khát tự do mãnh liệt đã làm cho Mị có được sự liều lĩnh, cắt đứt dây trói cho A Phủ, rồi cùng A Phủ bỏ trốn. Như vậy, ta có thể thấy rằng, giọt nước mắt của A Phủ không chỉ là cho bản thân anh, mà phần nào tác động không ít lên Mị, chính giọt nước mắt ấy đã giải thoát cho cả hai người khỏi bóng ma cường quyền và thần quyền. Cũng qua chi tiết nước mắt của A Phủ, Tô Hoài đã bộc lộ rõ tấn bi kịch mà người nông dân phải chịu đựng suốt dưới ách thống trị của bọn quan lại miền núi, ông vừa tố cáo, vừa phơi bày bộ mặt tàn ác của bọn cường hào ác bá thông qua hình ảnh hai cha con nhà thống lí, vừa cảm thông, thương xót cho số phận những con người bị tước đoạt quyền tự do, hạnh phúc của mình qua hình ảnh Mị và A Phủ. Có thể nói, Tô Hoài là một trong những nhà văn tiêu biểu sau cách mạng, với lối viết thân thuộc, gần gũi người đọc, cách xây dựng nhân vật, tình huống logic, đã biến tác phẩm của ông trở thành một tuyệt tác đi vào lòng người.

      Nếu như trong các tác phẩm văn xuôi những năm trước và sau cách mạng, chúng ta thấy được những dòng nước mắt bi thương đến kiệt quệ của người dân, thấy được nỗi thống khổ mà con người phải chịu đựng suốt những năm chiến tranh, đói khát, bị áp bức, và những nỗi đau thấu tận xương tủy ấy khiến cho ta phải ám ảnh mãi, dù có gấp lại những trang sách, thì ta vẫn nhớ mãi về nó. Nhưng tác giả vì thương cho số phận nhân vật, vẫn tạo ra những cái kết dù là buồn như chị Dậu ( Tắt đèn_Ngô Tất Tố), dù cho tác giả có để cho chị chạy thoát được đi chăng nữa, thì khi chị chạy ra ngoài là một màn đêm đen như mực ‘’đen như cái tiền đồ của chị’’, câu nói kết thúc vừa khiến người đọc cảm thấy nhẹ nhõm bởi chị đã chạy thoát nhưng cũng khiến người ta đau lòng, vì chị vẫn mãi ở trong màn đêm tăm tối ấy, mãi chẳng thể thoát ra ánh sáng. Hay cái kết mở cũng đủ thỏa mãn người đọc như truyện ngắn Vợ Nhặt của Kim Lân. Ở phần kết thúc, hình ảnh ‘’những người nghèo đói ầm ầm kéo nhau đi trên đê sộp và lá cờ đỏ bay phấp phới’’, khiến ta liên tưởng đây là một cái kết có hậu vì những người nghèo đói như Tràng cuối cùng đã tìm ra được ánh sáng cho chính mình để đi theo, để thoát khỏi cái nạn đói khủng khiếp này. Đúng vậy, dù cái kết có buồn có vui thì cũng đã thể hiện một điều là tác giả đã dùng cách của chính mình để cho nhân vật một lối thoát khỏi đau thương.

       Tuy vậy, vẫn có những bài thơ có đầy những cung bậc cảm xúc khác nhau về những dòng nước mắt. Đó là tiếng khóc của đứa bé chỉ mới vừa nửa tuổi đã bị bắt theo mẹ vào ngục tù tăm tối trong bài thơ ‘’Em bé ở nhà ngục Quảng Đông’’ của Hồ Chí Minh:

                                ‘’Oa! Oa! Oa!

                                   Cha trốn không đi lính nước nhà

                                   Nên nỗi thân em vừa nửa tuổi

                                   Phải theo mẹ vào ở nhà lao’’

Tiếng khóc của đứa bé mang sức nặng tố cáo chế độ xã hội, tố cáo chiến tranh. Bác Hồ dường như là người đầu tiên viết về tiếng khóc của em bé. Nhà thơ Giang Nam cũng từng nhắc đến tiếng khóc trẻ thơ trong bài ‘’Quê hương’’ của mình, nhưng đó chỉ là tiếng khóc bình thường của một đứa bé sợ bị mắng:

                                  ‘’Những ngày trốn học, đuổi bướm cầu ao

                                    Mẹ bắt được chưa đánh roi nào đã khóc’’

Khác với tiếng khóc của trẻ thơ đơn thuần, tiếng khóc của người trưởng thành lại có vài phần thật sầu não:

                                   ‘’Kìa ai tiếng khóc nỉ non

                                      Ấy vợ chú lính trèo hòn Đèo Ngang’’

Chế độ phong kiến với những bất công mà người gánh chịu là những người dân vô tội. Nước mắt đã thể hiện cho những đau khổ, xót xa của người đi, kẻ ở.

       Tiếng khóc và nước mắt, tưởng chừng như thật đơn giản, nhưng lại chứa đựng bao nỗi niềm trắc trở của nhiều thân phận. Cùng là dòng nước mắt nhưng có khi lại là niềm vui, có khi lại là nỗi buồn của con người. Nó được đưa vào rất nhiều tác phẩm, với nhiều cung bậc cảm xúc, nhưng quy lại cũng là nỗi lòng của nhân vật, của tác giả.

        Đặng Tiến quả thực rất tinh tế, khi ông đã nhìn thấu được mọi nỗi lòng của con người qua những dòng nước mắt. Để đưa ra một lời nhận xét tinh tế, ý nhị như vậy, thì không thể chỉ có hiện lên vài giây lát trong đầu mà phải trải qua cả một quá trình, đọc từng tác phẩm để đúc kết lại một ý nghĩa sâu sắc, lay động lòng người.

       Chẳng ai có thể giấu diếm cảm xúc của bản thân dưới những ngòi bút, những trang sách mang đầy xúc động cảm mãnh liệt. Đặc biệt là chi tiết nước mắt nhân vật.
  • (Có 1 bình chọn)

Đề Ngữ văn thi vào lớp 10 TPHCM có 3 phần: Đọc hiểu; Nghị luận xã hội; Nghị luận văn học. Trong đó phần Nghị luận xã hội, tạo lập văn bản ngắn với số điểm là 3.0 điểm được xem một trong những phần quan trọng để thí sinh lấy điểm tuyệt đối và nếu làm tốt phần nghị luận xã hội sẽ giúp HS có điểm cao trong bài văn của mình
Mỗi tác giả, nhà văn đều có một vùng đất để thương để nhớ. Nếu NguyễnTrung Thành tìm nguồn cảm hứng với vùng đất thiên nhiên đầy nắng gió với nhiềucon người đậm chất sử thi, Nguyễn Thi về với miền đất Phương Nam với những conngười miền Tây hào sảng thì với Tô Hoài là mảnh đất miền Tây Bắc đã để thương đểnhớ cho tôi quá nhiều.
Văn học gắn liền với cuộc sống, phản ánh hiện thực mà con người là trung tâm của hiện thực đó. Vì vậy, trong mỗi tác phẩm, con người luôn là tâm điểm của văn chương.
Mỗi một tác phẩm mà các nhà văn, nhà thơ viết lên đều bắt nguồn từ những cảm hứng nghệ thuật vô tận, những cảm hứng ấy được tác giả lấy ra từ chính hiện thực cuộc sống của con người.
Nguyễn Du là nhà thơ của tình người tên tuổi của ông như gắn liền với “Truyện Kiều” – một kiệt tác của dòng văn học trung đại đã từng gây nên bao tranh luận sôi nổi và đồng thời là nguồn cảm xúc đến tận cùng của bao thế hệ người đọc.
Nếu ví tác phẩm văn học như một hạt ngọc tròn trặn, ánh ngời thì cái tạo nên nó là hạt cát - hiện thực cuộc sống - và nước mặt hạt trai - công phu của người nghệ sĩ